Quyền kết hôn là một trong những quyền dân sự cơ bản của mỗi cá nhân. Vậy quyền kết hôn được hiểu như thế nào? Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận và bảo đảm quyền này ra sao, đồng thời đặt ra những giới hạn nào đối với việc kết hôn? Để giải đáp thắc mắc này, hãy cùng Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ tìm hiểu thông tin qua bài viết dưới đây.
1. Quyền kết hôn tại Việt Nam
Kết hôn được xác định là một trong những quyền dân sự cơ bản của con người và được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế, trong đó có Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng ghi nhận quyền kết hôn của cá nhân.
Tại Việt Nam, quyền kết hôn được ghi nhận tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, nam, nữ có quyền kết hôn và ly hôn; quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.
>>> Xem thêm: Tại Hà Nội, có văn phòng công chứng nào hỗ trợ làm dịch vụ sổ đỏ trọn gói ngoài giờ hành chính không?
Đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm bảo hộ hôn nhân, gia đình cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của người mẹ, trẻ em.
Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 quy định các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình tại Việt Nam. Trong đó có thể kể đến 05 nguyên tắc cơ bản sau:
– Thứ nhất, bảo đảm hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và vợ chồng bình đẳng. Việc kết hôn phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của các bên, không được ép buộc hoặc cản trở việc kết hôn.
– Thứ hai, bảo đảm sự bình đẳng và tôn trọng trong quan hệ hôn nhân. Hôn nhân giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau; giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng cũng như giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài đều được tôn trọng và pháp luật bảo vệ.

– Thứ ba, xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ và hạnh phúc. Các thành viên trong gia đình có trách nhiệm yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và tôn trọng nhau; đồng thời không được phân biệt đối xử giữa các con.
– Thứ tư, bảo vệ các thành viên yếu thế trong gia đình. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi và người khuyết tật trong việc thực hiện quyền về hôn nhân, gia đình; đồng thời hỗ trợ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng của mình và thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình.
– Thứ năm, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp. Chế độ hôn nhân và gia đình phải được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh các nguyên tắc nêu trên, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng quy định cụ thể về điều kiện kết hôn. Theo đó, việc kết hôn phải do nam và nữ tự nguyện quyết định; nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên, nam từ đủ 20 tuổi trở lên và người kết hôn không thuộc trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự.
Ngoài ra, người có nhu cầu kết hôn phải bảo đảm không thuộc các trường hợp bị pháp luật cấm. Một số hành vi bị cấm có thể kể đến như kết hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn, cản trở việc kết hôn; người đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác; kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ…
Có thể thấy, pháp luật Việt Nam hiện nay ghi nhận quyền kết hôn trên cơ sở tôn trọng ý chí và sự tự nguyện của các bên.
Tuy nhiên, kết hôn không chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai người mà còn tạo ra nhiều quan hệ pháp lý khác đối với gia đình và xã hội. Vì vậy, quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân vẫn phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác cũng như lợi ích chung của xã hội.
2. Quyền kết hôn của người đồng giới tại Việt Nam
Trước đây, theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, việc kết hôn giữa những người cùng giới tính thuộc một trong các trường hợp bị pháp luật cấm.
Tuy nhiên, quan điểm pháp luật đã có sự thay đổi khi Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 được ban hành. Cụ thể, tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, các hành vi bị cấm không còn bao gồm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính. Đây được xem là sự thay đổi đáng chú ý trong cách tiếp cận của pháp luật đối với vấn đề hôn nhân đồng giới.

>>> Xem thêm: Phí công chứng văn bản chấm dứt hợp đồng mua bán nhà được tính thế nào?
Mặc dù không còn quy định cấm, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 lại quy định rõ: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.
Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay không cấm những người cùng giới tính tổ chức cuộc sống chung nhưng cũng chưa thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa họ.
Điều này đồng nghĩa với việc các cặp đôi cùng giới tính không thể thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Do không được pháp luật thừa nhận là quan hệ hôn nhân nên các bên cũng không phát sinh đầy đủ quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Theo đó, người đồng giới vẫn có thể tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán và lựa chọn sống chung với nhau. Tuy nhiên, việc tổ chức lễ cưới hoặc chung sống thực tế không làm phát sinh quan hệ vợ chồng được pháp luật công nhận.
Do không tồn tại quan hệ hôn nhân theo quy định pháp luật, trường hợp các cặp đôi cùng giới sống chung sau đó phát sinh tranh chấp, chẳng hạn về tài sản hoặc con cái, việc giải quyết có thể phát sinh những vấn đề pháp lý phức tạp và không được áp dụng hoàn toàn các quy định dành cho quan hệ vợ chồng.
3. Những trường hợp bị cấm kết hôn tại Việt Nam
Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình số 52/2014/QH13 quy định các hành vi bị nghiêm cấm nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình. Theo đó, các trường hợp bị cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng bao gồm:
– Thứ nhất, cấm kết hôn giả tạo. Đây là trường hợp lợi dụng việc kết hôn nhằm mục đích khác mà không phải để xây dựng gia đình, chẳng hạn nhằm xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch, hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc đạt được mục đích khác.
– Thứ hai, cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn và cản trở kết hôn. Việc kết hôn phải dựa trên sự tự nguyện của các bên, do đó mọi hành vi ép buộc, lừa dối hoặc ngăn cản trái pháp luật đều không được phép.
– Thứ ba, cấm người đang có vợ hoặc chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Đồng thời, người chưa có vợ hoặc chồng cũng không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng hoặc vợ.
– Thứ tư, cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ gia đình thuộc trường hợp luật định. Cụ thể gồm những người có cùng dòng máu về trực hệ; những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa cha dượng với con riêng của vợ; giữa mẹ kế với con riêng của chồng; giữa cha chồng với con dâu và giữa mẹ vợ với con rể.
Như vậy, pháp luật Việt Nam vừa ghi nhận quyền kết hôn của cá nhân, vừa đặt ra những điều kiện và giới hạn nhất định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, duy trì chế độ hôn nhân một vợ một chồng và bảo đảm trật tự, đạo đức xã hội.
>>> Xem thêm: Địa chỉ văn phòng công chứng thứ 7 chủ nhật, hỗ trợ nhận hồ sơ online
Trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Quyền kết hôn được quy định như thế nào tại Việt Nam?”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ theo thông tin:
VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ
Miễn phí dịch vụ công chứng tại nhà
VPCC Nguyễn Huệ được thành lập từ ngày 03/10/2012, có địa chỉ trụ sở tại số 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội dưới sự điều hành của các Công chứng viên có trình độ và bề dày thành tích trong ngành pháp luật cũng như trong lĩnh vực công chứng:
- Công chứng viên kiêm Trưởng Văn phòng Nguyễn Thị Huệ: Cử nhân Luật, cán bộ cấp cao, đã có 31 năm làm công tác pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng, hộ tịch, quốc tịch. Trong đó có 7 năm trực tiếp làm công chứng và lãnh đạo Phòng Công chứng.
- Công chứng viên Nguyễn Thị Thủy: Thẩm Phán ngành Tòa án Hà Nội với kinh nghiệm công tác pháp luật 30 năm trong ngành Tòa án, trong đó 20 năm ở cương vị Thẩm Phán.
- Công chứng viên Chu Cảnh Hưng: Đã từng làm 10 năm Viện phó viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trưởng văn phòng công chứng Chu Cảnh Hưng.
- Công chứng viên Nguyễn Thị Kim Thanh: Là Luật sư, nguyên Trưởng Văn phòng công chứng tại Bắc Ninh với nhiều năm kinh nghiệm quản lý và điều hành nghiệp vụ. Chuyên gia dày dạn trong việc thẩm định hồ sơ pháp lý, giải quyết những hồ sơ khó và phức tạp một cách chuẩn xác nhất.
- Xem thêm…
- Địa chỉ: 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, Hà Nội
- Hotline: 0966.22.7979
- Email: ccnguyenhue165@gmail.com
XEM THÊM CÁC TỪ KHÓA TÌM KIẾM:
>>> Công chứng văn bản chấm dứt hợp đồng mua bán nhà đất được thực hiện thế nào?
>>> Thủ tục làm sổ đỏ lần đầu năm 2026: Giấy tờ, chi phí bao nhiêu?
>>> Công chứng thừa kế có cần có mặt tất cả các đồng thừa kế không?
>>> Dự kiến từ ngày 1/1/2025, có thể kiểm tra Sổ đỏ thật giả bằng mã QR?
>>> Từ 01/9/2026, dùng số định danh cá nhân thay mã số BHXH: Người dân có phải làm thủ tục?
